IPB

Video kỷ niệm
Diễn đàn toán học 2.0
Ảnh kỷ niệm
Trại hè toán học Huế 2009 trích đoạn Vui chơi ở huế 2009 mini game trại hè toán học 3 Mạng xã hội toán học 2.0 Ảnh Côn Sơn - Kiếp Bạc Trại hè toán học 1
phỏng vấn trại hè huế 2009 do đài VOV thực hiện dã ngoại Côn Sơn Kiếp Bạc 2007 trại hè toán học lần thứ nhất 2006 tại Hà Nội Trại hè toán học 2 Trại hè toán học 3
Về việc làm áo đồng phục cho VMF


Chào mừng khách quý ( Đăng nhập | Đăng ký )

> Alan Turing, Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
ngocson52
bài viết Jan 10 2006, 03:29 PM
Gửi bài viết #1


Kẻ độc hành
Biểu tượng nhóm

Nhóm: Quản trị
Bài viết: 897
Tham gia: 26-December 04
Đến từ: Bắc Giang
Thành viên thứ 1
Đươc cảm ơn: 96 *



Turing là một trong những nhà khoa học lớn bị lãng quên của thế kỷ XX, cho dù ông là cha đẻ của máy tính, hay ít nhất cũng là một phần lý thuyết tạo ra nó. Sự đóng góp to lớn của ông đã quyết định sự chiến thắng của phe Đồng Minh trong Thế chiến II.



Cha đẻ của khái niệm "máy tính"

Alan Turing sinh ngày 23 tháng 6 năm 1912 tại Luân Đôn. Cha làm trong ngành thuế và phải sang làm việc tại Ấn Độ. Năm 1913, mẹ ông cũng rời nước Anh sang Ấn Độ theo chồng, để lại bé Alan mới được 1 tuổi nuôi bởi hết người giám hộ này tới người giám hộ khác trong các trường nội trú. Alan không phải là một học trò giỏi. Các giáo viên luôn phê bình ông là người học trò lơ đễnh. Năm 15 tuổi, ông gặp Christopher Morton và hai người bạn này đã cùng nhau trao đổi đam mê khoa học. Nhưng quan hệ này dẫn tới sự mập mờ giữa tình bạn và tình yêu. Nhưng việc Christopher mất vào tháng hai năm 1930 đã làm Turing hết sức bối rối.


Máy viết mật mã Enigma đã khiến quân đồng minh đau đầu mất một thời gian dài


Tuy vậy, ông cũng thi đậu trường King's College tại Cambridge. Tại đây, tài năng của ông được phát triển vì không ai chế nhạo bệnh đồng tính luyến ái và bề ngoài khác biệt của ông. Tại trường, mỗi người đều giữ được cá tính của riêng mình. Alan thường để tóc tai, quần áo lôi thôi, lười cạo râu, thích đạp xe đạp, đeo một chiếc đồng hồ ở thắt lưng để xem thời gian đạp xe và luôn có một mặt nạ phòng khí độc đeo trên mặt để phòng dị ứng phấn hoa (hay fever). Ngoài việc ham thích môn thể thao chạy bộ, Alan còn thích những công trình về cơ học lượng tử của John Von Neumann.

Cho dù ông lập dị, nhưng khả năng toán học cũng như những việc làm của ông thật đặc sắc. Năm 1924 Turing in một bài báo chứng tỏ rằng toán học luôn chứa những trạng thái mà không thể chứng minh hay bắt bẻ. Ngoài ra, ông dự định làm một chiếc máy có thể tính được bất cứ con số nào. Cái máy đó bao gồm một bộ phận điều khiển (control unit) và một bộ nhớ, có thể hoàn thiện nhiều thao tác cơ bản: đọc, viết hay xóa những ký hiệu trên băng (tape) và cho băng chạy tới hay chạy lui. "Máy Turing" đơn giản này dùng làm mẫu cho các máy tính số sau này.
Ông cũng thích môn sinh học, đặc biệt là mạng nối giữa các dây thần kinh. Ông tự hỏi: "Tại sao các máy quá tài tình trong việc tính toán mà lại hạn chế sự mô phỏng những hành động tự nhiên giản dị nhất của người như đi lại, cầm cái ly...)?"
Trước tuổi 30, ông đã tưởng tượng ra những nền tảng căn bản cho một máy tính số (digital computer) hiện đại sau này và ông luôn là người dẫn đầu về lý thuyết cơ bản của trí thông minh nhân tạo (artificial intelligence).

Là người nghĩ ra việc chế tạo một chiếc máy thông dụng cho toàn thế giới (universal machine), tìm ra cách thức để một máy tính có thể làm rất nhiều chuyện, tiếc thay Turing không còn sống để thấy sự tiến triển khổng lồ của ngành thông tin và máy tính.

Phá mật mã phát xít Đức

Trước công chúng, ông là một nhà toán học tài ba, đã giúp phe Đồng minh chiến thắng trong Thế chiến II thắng nhờ giải được các mật mã số của quân Đức. Tuy nhiên, trong nội tâm, Turing là một người nhát gan, luôn xấu hổ, sống lập dị và bị đối xử tàn bạo. Chính cách sống cách biệt của ông đã dẫn tới cái chết đau thương lúc ông mới 41 tuổi.
Năm 1935, ông đưa ra khái niệm algorithme (thuật toán). Chiếc máy Turing có khả năng thực hiện cả một quá trình algorithme. Những máy tính hiện đại chính là được thực hiện dựa trên nền móng của chiếc máy Turing.
Năm 1936, Turing đến Đại học Princeton (Mỹ). Tại đây, ông lấy bằng PhD Toán học và làm việc với nhà toán học người Mỹ gốc Hungary là John von Neumann (1903-1957), người rất nổi tiếng với Cơ học lượng tử. Nhờ đó, Turing đã học thêm về xác suất và logique.

Turing trở về Anh quốc năm 1938. Liền sau đó ông vào quân đội Anh để phục vụ cho cuộc chiến sắp đến. Đầu Thế chiến II, quân đội phát xít Đức liêp tiếp thắng trận trên biển. Một trong những chìa khóa giúp chúng chiến thắng là việc sử dụng máy viết mật mã Enigma, một máy mã hóa điện từ, để giúp bộ tham mưu phát xít Đức truyền những thông điệp cho các tàu ngầm. Những thông điệp này phe các nước Đồng Minh có được nhưng không thể giải được. Do đó quân đội Anh đã bí mật thành lập một cơ quan tối mật có nhiệm vụ "bẻ khoá mật mã" nhằm giải các mật mã từ máy Enigme của phát xít Đức. Nhóm này gồm 10.000 nhà nghiên cứu, thư ký và thậm chí cả các nhà vô địch cờ vua, nhà nghiên cứu về Ai Cập để tìm hiểu cơ chế của máy Egnima.


Bản phân tích máy tính của Alan Turing tại Manchester University


Turing đã tới Bletchley Park, nơi đặt cơ quan tối mật nói trên để giúp đỡ quân đội Anh thiết kế máy tính Bombe, một máy tính có tốc độ xử lý rất nhanh có thể giải mã và thử hàng ngàn mật mã khác nhau. Turing làm việc với Gordon Welchman, một nhà toán học khác. Trước khi chiến tranh chấm dứt, ông đã cho ra đời một máy tính điện tử có tên máy Kolossus, dùng để giải mã tất cả những thông điệp của phía phát xít Đức.

Kết cục buồn

Sau chiến tranh, ông trở lại làm việc ở Cambridge và hy vọng sống một cuộc đời bình dị như ông mong muốn. Nhưng Bộ phận toán học của Phòng thí nghiệm Vật lý Quốc gia Anh (NPL) lúc đó vừa mới thành lập lại muốn ông tạo ra được chiếc máy Turing, tức là Chiếc máy tự động tính toán (Automatic Computing Engine) hay chiếc máy tính mà chúng ta thường dùng ngày nay. Ông đã đồng ý. Tuy nhiên, thói quan liêu, trì trệ đã cản trở công việc của Turing. Phần lớn các đề nghị của ông bị bỏ qua, quên lãng hoặc không thừa nhận. Thế là ông buộc phải rời bỏ NPL để làm một công việc khác ở Cambridge trước khi nhận lời chuyển sang Đại học Manchester, nơi một chiếc máy tính khác đang được xây dựng từ những gợi ý của Turing từ năm 1937.

Từ các nghiên cứu của mình, Turing tin tưởng được sẽ chế tạo được các máy tính có thể tự nhận thức (tính toán). Ông đã đưa ra ý tưởng rằng có thể làm được một chiếc máy tự học và thay đổi các lệnh điều khiển. Trong một bài báo nổi tiếng công bố năm 1950 trên Mind, một tạp chí triết học, Turing đưa ra khái niệm "phép thử bắt chước" (imitation test) mà sau này người ta gọi là Turing test. Hãy tưởng tượng rằng có một người ngồi trong một phòng kín và nghe liên tiếp các câu hỏi từ một người và một máy tính. Nếu người trả lời không phân biệt được câu hỏi nào là của người, câu hỏi nào của máy tính, lúc đó có thể nói máy tính đã có khả năng "suy nghĩ" giống như người.

Turing cũng được coi là người hùng trong việc tạo ra trí tuệ nhân tạo (artificial intelligence) một phần nhờ câu nói: "Vào một ngày nào đó, các quí bà sẽ đem máy tính theo mình trong lúc đi dạo ở công viên và thích thú nói với nhau rằng: "Chiếc máy tính nhỏ của tôi nói rằng thời tiết sáng nay thật đẹp!". Những gì mà Turing mường tượng ra đã trở thành thực tế của ngày hôm nay. Chỉ tiếc rằng ông không còn sống để nhìn thấy những thành quả này.

Tại Manchester, Turing báo với cảnh sát về việc nhà ông mất trộm và nghi ngờ rằng thủ phạm có thể là một người có quan hệ với ông. Chính việc thẳng thắn nói mình mắc chứng đồng tính luyến ái đã gây rắc rối cho ông. Ở nước Anh lúc đó, đồng tính luyến ái bị coi là một tội và Turing bị đưa ra toà và kết án "phạm tội khiếm nhã" vào năm 1952. Thoát bị tù nhưng ông bị buộc phải tiêm hóc môn nữ tính vào người để trở thành phụ nữ. Bị xúc phạm quá mạnh, ông đã ăn một trái táo có tẩm chất độc cyanur (cyanide) và qua đời vào ngày 7/6/1954, lúc mới có 41 tuổi.

Anh Trí (theo VietscienceTime)


Báo Tia Sáng (số 14 - 20.10.2005)


--------------------
Ngọn cỏ tìm bạn bè đông đảo ở dưới thấp, cái cây tìm sự cô độc ở trên trời.
Go to the top of the page
 
+Quote Post
 
Start new topic
Trả lời (1 - 1)
namvk
bài viết Jul 22 2006, 06:00 PM
Gửi bài viết #2


Tay Trái Vàng
Biểu tượng nhóm

Nhóm: Thành viên
Bài viết: 894
Tham gia: 5-March 06
Đến từ: Mặt Trời
Thành viên thứ 9.040
Đươc cảm ơn: 2 *





Alan Mathison Turing (23 tháng 6, 1912 – 7 tháng 6, 1954) là một nhà toán học, logic học và mật mã học người Anh thường được xem là cha đẻ của ngành khoa học máy tính. Thử thách Turing (Turing test) là một trong những cống hiến của ông trong ngành trí tuệ nhân tạo: thử thách này đặt ra câu hỏi rằng máy móc có khi nào đạt được ý thức và có thể suy nghĩ được hay không. Ông đã công thức hóa khái niệm thuật toán và tính toán với máy Turing, đồng thời đưa ra phiên bản của "Turing", mà ngày nay được đông đảo công chúng chấp nhận, về luận đề Church-Turing, một luận đề nói rằng bất cứ mô hình tính toán thiết thực nào đều có khả năng thấp hơn hoặc bằng khả năng của một máy Turing.

Trong Đệ nhị thế chiến, Turing đã từng làm việc tại Bletchley Park, trung tâm giải mật mã của Anh, và một thời là người chỉ huy của Hut 8, một bộ phận của Anh có trách nhiệm trong việc giải mã của hải quân Đức. Ông đã sáng chế ra nhiều kỹ sảo hòng phá mật mã của Đức, trong đó có phương pháp nối các máy giải mã lại với nhau thành một bộ Bombe, một máy điện-cơ để tìm ra công thức gài đặt cho máy Enigma.

Sau chiến tranh, ông cộng tác tại Phòng thí nghiệm Vật lý Quốc gia (National Physical Laboratory), và đã tạo ra một trong những đồ án đầu tiên cho một máy tính có khả năng lưu trữ chương trình (stored-program computer), nhưng nó không bao giờ được kiến tạo thành máy. Năm 1947 ông chuyển đến Đại học Victoria tại Manchester để làm việc, đa số trên phần mềm cho máy Manchester Mark I, lúc đó là một trong những máy tính hiện đại đầu tiên.

Năm 1952, Turing bị kết án với tội đã có những hành vi khiếm nhã nặng nề, sau khi ông tự thú đã có quan hệ đồng tính luyến ái với một người đàn ông ở Manchester. Ông bị tù treo và phải dùng liệu pháp hoóc môn.

Turing qua đời năm 1954; cuộc điều tra cái chết của ông cho thấy ông đã tự tử bằng cách ăn một quả táo có tẩm thuốc độc xyanua.

Thời thơ ấu và thiếu niên

Mẹ của Alan mang thai ông vào năm 1911, tại Chatrapur, Ấn Độ. Cha ông, Julius Mathison Turing, lúc đó là một công chức trong ngành Dân chính Ấn Độ (Indian Civil Service), lúc đó vẫn dưới sự cai quản của chính phủ Anh. Julius và vợ mình, bà Ethel (nguyên họ là Stoney) muốn con mình lớn lên tại Anh, nên họ đã trở về Paddington, Luân Đôn, nơi Alan Turing được sinh ra vào ngày 23 tháng 6 năm 1912. Vì nhiệm vụ với ngành dân chính của cha ông vẫn còn, trong lúc Alan còn nhỏ, cha mẹ của ông thường phải di chuyển giữa Guildford (Anh) và Ấn Độ, để hai đứa con trai của họ cho các người bạn tại Anh giữ hộ, vì tình trạng y tế ở Ấn Độ còn thấp kém. Ngay từ lúc còn nhỏ, ông đã thể hiện các dấu hiệu thiên tài. Ông tự tập đọc trong vòng ba tuần, và có biểu lộ ham thích toán học, cùng với giải đáp các câu đố.

Lúc Alan 6 tuổi, cha mẹ cho ông học tại trường St. Michael's. Bà hiệu trưởng của trường đã nhận thấy thiên tài của Alan từ lúc ban đầu, cũng như các giáo viên của ông sau này. Năm 1926, khi ông 14 tuổi, ông đến học tại trường nội trú Sherborne ở Dorset. Ngày khai giảng của khóa đầu xảy ra cùng ngày với một cuộc tổng đình công tại Anh, nhưng vì ông quyết trí muốn đến lớp, ông đã chạy xe đạp trên 60 dặm (100 km) từ Southampton đến trường, không có người dẫn, chỉ dừng lại và trọ qua đêm tại một quán trọ trên đường. Sự kiện này đã được báo chí địa phương tường trình.

Tuy có năng khiếu toán và khoa học, Turing không được các thầy cô coi trọng tại Sherborne, một trường công nổi tiếng và đắt đỏ (thật sự đây là một trường tư ở Anh nổi tiếng với tính từ thiện) vì trường này đánh giá các môn kinh điển cao hơn. Hiệu trưởng của ông đã viết thư cho cha mẹ ông nói "Tôi hy vọng rằng anh ta không rơi vào tình trạng lơ lửng, giữa trường nọ với trường kia. Nếu anh ta muốn ở lại Trường Công, thì anh ta nhất định phải đặt mục tiêu để trở thành một người có giáo dục. Còn nếu anh ta chỉ muốn trở thành một Nhà khoa học chuyên ngành thì tôi e rằng anh ta đang phung phí thời gian của mình tại Trường Công" [1].


Phòng điện toán tại trường đại học King's nay được đặt tên theo Turing, nguyên là sinh viên tại đây năm 1931 và hội viên năm 1935

Mặc dầu vậy, Turing vẫn biểu hiện năng khiếu trong các môn ông ưa thích. Ông đã giải được nhiều bài toán bậc cao trong năm 1927 trước khi học đến giải tích cơ bản. Khi ông 16 tuổi (1928), ông đã hiểu được các tác phẩm của Albert Einstein, không những nắm được nội dung, ông còn suy luận được về những thắc mắc của Einstein đối với các định luật của Newton về chuyển động trong một bài viết mà Einstein không nói thẳng ra.
Trong lúc học tại Sherborne, Turing đã ngầm yêu Christopher Morcom, một người bạn, nhưng mối tình không được đáp lại. Morcom qua đời một vài tuần trước khi ra trường vì bệnh lao đã mắc phải sau khi uống sữa bò có vi khuẩn lao lúc còn nhỏ. Turing rất đau lòng vì sự việc này.

Đại học và các nghiên cứu trong toán học


Vì Turing không chịu học các môn ngoài toán và khoa học, ông không nhận được học bổng để học tại Học viện Trinity của Đại học Cambridge, mà phải học tại Học viện King's của Đại học Cambridge từ năm 1931 đến 1934 và tốt nghiệp đại học với bằng danh dự. Năm 1935 ông được chọn làm nghiên cứu sinh tại trường King's, do sức thuyết phục của mình trong luận văn về hàm số độ sai của Gauss.

Trong bài viết nổi tiếng của ông, tựa đề "Các số khả tính, với áp dụng trong Vấn đề về lựa chọn" (On Computable Numbers, with an Application to the Entscheidungsproblem) - thuật toán lôgic - (đệ trình ngày 28 tháng 5 năm 1936), Turing tái dựng lại kết quả của Kurt Gödel hồi năm 1931 về những hạn chế trong chứng minh và tính toán, thay đổi thuật ngữ tường trình số học chính quy của Gödel, bằng cái mà ngày này người ta gọi là máy Turing, một dụng cụ chính quy và đơn giản. Ông đã chứng minh rằng một cái máy như vậy sẽ có khả năng tính toán bất cứ một vấn đề toán học nào, nếu vấn đề ấy có thể được biểu thị bằng một biểu trình thuật toán, ngay cả khi một cái máy Turing cụ thể như vậy không có mấy công dụng thực tiễn vì sự chậm chạp của nó so với những cơ chế khác.

Máy Turing, cho đến nay, vẫn là một vấn đề nghiên cứu trung tâm trong lý thuyết về máy tính. Ông còn tiếp tục chứng mình rằng vấn đề về lựa chọn (Entscheidungsproblem) là một vấn đề không có giải đáp, bằng cách đầu tiên chứng minh rằng nan đề ngưng hoạt động trong máy của Turing là một nan đề bất khả định; khó mà có thể quyết định được rằng một cái máy Turing nào đó sẽ ngưng hoạt động tại một điểm nào đó. Tuy chứng minh của ông được đăng công khai sau chứng minh tương tự của Alonzo Church đối với giải tích lambda (lambda calculus), chứng minh của Turing được coi là dễ hiểu và trực giác hơn. Chứng minh của ông còn nổi tiếng về đề bạt một cái "máy Turing vạn năng" (Universal (Turing) Machine), một ý tưởng rằng một cái máy như vậy có thể làm bất cứ việc gì mà các máy khác phải làm. Bài viết còn giới thiệu quan niệm về số khả định (definable number).



Alan Turing, gác chân lên bậc cửa xe buýt, cùng với các thành viên của Câu Lạc Bộ Thể Thao Walton, 1946

Hầu hết thời gian giữa năm 1937 và 1938, ông cư trú tại Đại học Princeton, nghiên
cứu dưới sự chỉ đạo của Alonzo Church. Năm 1938, ông đạt được bằng Tiến sĩ tại trường này. Luận văn của ông giới thiệu quan niệm tính toán tương đối (relative computing). Trong quan niệm này, nhiều máy Turing được ghép lại, trở thành một cái máy tiên tri (oracle machine), cho phép nghiên cứu những phương trình không thể giải được nếu chỉ sử dụng một cái máy Turing mà thôi.

Sau khi quay trở lại Cambridge vào năm 1939, ông thính dự giảng đường của Ludwig Wittgenstein về nền tảng của toán học (foundations of mathematics). Hai người tranh cãi và bất đồng ý kiến một cách kịch liệt. Trong khi Turing bảo vệ lập trường của chủ nghĩa hình thức (formalism), thì Wittgenstein lại tranh cãi rằng toán học được đánh giá quá mức, và bản thân nó không thể tìm ra bất cứ một chân lý cuối cùng nào (absolute truth) (Wittgenstein 1932/1976).


Giải mật mã

Trong Đệ nhị thế chiến, Turing là một người tham gia đóng góp quan trọng tại Bletchley Park, trong việc phá mật mã của Đức. Ông đóng góp những hiểu biết sâu sắc về việc giải mã cả hai máy Enigma và máy Lorenz SZ 40/42 (một máy điện báo đánh chữ dùng làm bộ mã hoá ghép thêm, được quân đội Anh đặt tên là "Tunny"), và ông đã từng một thời là trưởng phòng Hut 8, bộ phận chịu trách nhiệm thu và đọc tín hiệu của hải quân Đức.



Hai gian nhà trong sân trước chuồng ngựa tại Bletchley Park. Turing đã từng làm việc tại đây trong những năm 1939–1940 cho đến khi ông chuyển sang Hut 8

Từ tháng 9 năm 1938, Turing làm thêm giờ tại Trường mật mã của chính phủ (Government Code and Cypher School). Turing có mặt và báo cáo tại Bletchley Park vào ngày 4 tháng 9 năm 1939, ngay sau ngày Anh tuyên bố chiến tranh với Đức.

Máy bombe của Turing và Welchman


Chỉ trong vài tuần sau khi đến Bletchley Park[2], Turing đã sáng chế ra một cái máy cơ-điện tử (electromechanical machine) giúp vào việc giải mã máy Enigma, đặt tên là máy bombe, lấy tên theo cái máy "bomba" được sáng chế tại Ba Lan. Máy bombe, với một nâng cấp được đề bạt bởi nhà toán học Gordon Welchman, trở thành dụng cụ chủ yếu dùng để đọc nguồn tin truyền qua lại từ máy Enigma.


Bản sao của một máy bombe


Máy bombe dò tìm công thức cài đặt của khối quay trong máy Enigma, và nó cần phải có một bộ mã (crib), tức là một dòng chữ chưa mã hóa và một dòng mật mã tương ứng. Với mỗi dự kiến cài đặt của khối quay, máy bombe hoàn thiện một chuỗi các tiến trình suy luận lôgic, dựa vào bộ mã, dùng các cấu kết mạch điện tử đã được lắp ráp. Máy bombe lùng tìm và phát hiện mâu thuẫn khi nó xảy ra, loại bỏ công thức cài đặt gây nên sự mâu thuẫn ấy, rồi tiếp tục lùng tìm một công thức khác, hợp lý hơn. Đa số các công thức cài đặt khả quan đều gây nên sự mâu thuẫn, và bị loại bỏ, chỉ để lại một số ít các công thức khả dĩ để được nghiên cứu chi tiết hơn. Máy bombe của Turing lần đầu tiên được lắp ráp vào ngày 18 tháng 3 năm 1940.Có đến trên 200 cái máy bombe như vậy vẫn đang hoạt động khi chiến tranh kết thúc.

Hut 8 và máy Enigma của hải quân Đức

Vào tháng 12 năm 1940, Turing khám phá ra hệ thống chỉ thị của máy Enigma của hải quân Đức, một hệ thống chỉ thị phức tạp hơn tất cả các hệ thống chỉ thị khác đang được dùng bởi các chi nhánh trong quân đội. Turing cũng sáng chế ra công thức xác suất Bayes (Bayesian), một kỹ thuật trong thống kê được đặt tên là "Banburismus", để giúp vào việc giải mã Enigma của hải quân Đức. Banburismus cho phép loại bỏ một số công thức cài đặt của khối quay của máy Enigma, giảm lượng thời gian kiểm nghiệm các công thức cài đặt cần thiết trên các máy bombe.

Vào mùa xuân năm 1941, Turing đính hôn với một nhân viên cùng làm việc tại Hut 8, tên là Joan Clarke, nhưng chỉ đến mùa hè, cả hai đã thoả thuận hủy bỏ cuộc hôn nhân.

Tháng 7 năm 1942, Turing sáng chế ra một kỹ sảo, đặt tên là Turingismus hoặc Turingery, dùng vào việc chống lại máy mật mã Lorenz. Rất nhiều người lầm tưởng rằng Turing là một nhân vật quan trọng trong việc thiết kế máy tính Colossus, song điều này không phải là một sự thật.

Tháng 11 năm 1942, Turing du lịch sang Mỹ và bắt liên lạc với những nhân viên phân tích mật mã của hải quân Mỹ tại Washington, D.C., thông báo cho họ biết về máy Enigma của hải quân Đức, cùng với sự việc lắp ráp máy bombe. Ông đồng thời trợ lý việc kiến tạo các công cụ truyền ngôn bảo mật (secure speech) tại Bell Labs. Tháng 3 năm 1948, ông quay trở lại Bletchley Park. Trong khi ông vắng mặt, Hugh Alexander thay thế ông làm trưởng phòng Hut 8, tuy trên thực tế Hugh Alexander đã nắm quyền trưởng phòng trong một thời gian khá lâu. Turing rất ít quan tâm đến việc quản lý công việc hằng ngày của bộ phận. Turing trở thành cố vấn chung về phân tích mật mã tại Bletchley Park.

Trong những ngày sau rốt của chiến tranh, ông tự trau dồi về công nghệ điện tử, trong khi chịu trách nhiệm (được sự hỗ trợ của kỹ sư Donald Bayley) thiết kế một cái máy di động - mật hiệu là Delilah - cho phép thông tin truyền âm bảo mật (secure voice). Với xu hướng ứng dụng trong các công dụng khác, máy Delilah thiếu khả năng truyền sóng radio trường tuyến (long-distance radio transmission), và không được sử dụng trong chiến tranh vì sự hoàn thành của nó quá muộn. Tuy Turing đã thao diễn chức năng của máy cho các quan chức cấp trên, bằng cách mật mã hóa và giải mã một bản ghi âm lời nói của Winston Churchill, máy Delilah vẫn không được chọn và sử dụng.

Trong năm 1945, Turing đã được tặng huy chương OBE (Order of the British Empire) vì thành tích phục vụ trong cuộc chiến tranh.


Những máy tính đầu tiên và kiểm nghiệm của Turing


Turing đạt được tiêu chuẩn ngang cấp thế giới về chạy việt dã. Thời gian ngắn nhất mà ông đạt được là 2 giờ, 46 phút, 3 giây. Thời gian này chỉ chập hơn 11 phút so với người thắng cuộc trong Thế vận hội 1948


Từ năm 1945 đến năm 1947, Turing đã làm việc tại Phòng thí nghiệm Vật lý Quốc gia (National Physical Laboratory). Tại đây, ông thiết kế máy tính ACE (Automatic Computing Engine - Máy tính tự động). Ngày 19 tháng 2 năm 1946, ông đệ trình một bản thiết kế hoàn chỉnh đầu tiên của Anh về máy tính với khả năng lưu trữ lập trình (xem kiến trúc Von Neumann). Tuy ông đã thành công trong việc thiết kế máy ACE, song do những trì hoãn trong việc khởi công đề án, ông trở nên thất vọng và chán nản. Cuối năm 1947, ông quay trở lại Cambridge, bắt đầu một năm nghỉ ngơi của mình (sabbatical year). Trong khi ông đang nghỉ ngơi tại Cambridge, công việc xây dựng máy ACE đã bị huỷ bỏ hoàn toàn, trước khi nó được khởi công xây dựng. Năm 1949, ông trở thành phó giám đốc phòng thí nghiệm máy tính (computing laboratory) của Đại học Manchester, và viết phần mềm cho một trong những máy tính đầu tiên — máy Manchester Mark I. Trong thời gian này, ông tiếp tục làm thềm những công việc trừu tượng, và trong bài viết "Vi tính máy móc và trí thông minh" (Computing machinery and intelligence) - tờ Mind, tháng 10 năm 1950 - ông nói đến vấn đề về "trí tuệ nhân tạo" (artificial intelligence) và đề đạt một phương thức kiểm nghiệm, mà hiện giờ được gọi là kiểm nghiệm Turing (Turing test), một cố gắng định nghĩa tiêu chuẩn cho một cái máy được gọi là "có tri giác" (sentient).

Năm 1948, Turing, hiện đang làm việc với một người bạn học cũ, D.G. Champernowne, bắt đầu viết một chương trình đánh cờ vua cho một máy tính chưa từng tồn tại. Năm 1952, tuy thiếu một máy tính đủ sức để thi hành phần mềm, Turing đã chơi một ván cờ. Trong ván cờ này, ông bắt trước cái máy tính, đợi nửa tiếng đồng hồ trước khi đi một quân cờ. Ván cờ đã được ghi chép lại; phần mềm thua người bạn đồng hành của Turing, Alick Glennie, song lại thắng người vợ của ông Champernowne.


Tạo mẫu hình và sinh toán học


Turing nghiên cứu vấn đền sinh toán học (mathematical biology) từ năm 1952 cho đến khi qua đời năm 1954, đặc biệt về hình thái học (morphogenesis). Năm 1952, ông đã cho xuất bản một bài viết về vấn đến này, dưới cái tên "Cơ sở hoá học của hình thái học" (The Chemical Basis of Morphogenesis). Điểm trọng tâm thu hút sự chú ý của ông là việc tìm hiểu sự sắp xếp lá theo chu trình của dãy số Fibonacci, sự tồn tại của dãy số Fibonacci trong cấu trúc của thực vật. Ông dùng phương trình phản ứng phân tán, cái mà hiện nay là trung tâm của nghành Tạo mẫu hình (pattern formation). Những bài viết sau này của ông không được xuất bản, cho mãi đến năm 1992, khi loạt các cuốn "Những nghiên cứu và sáng chế của A.M. Turing" (Collected Works of A.M. Turing) được xuất bản.

Bị khởi tố vì hành vi đồng tính luyến ái và cái chết của Turing

Turing là một người đồng tính luyến ái sống vào thời điểm mà các hành vi đồng tính luyến ái bị coi là phạm pháp. Năm 1952, người tình lâu năm của ông lúc bấy giờ là Arnold Murray đã lén lút giúp một kẻ đột nhập vào nhà Turing. Turing báo cáo sự vụ này đến đồn cảnh sát. Dưới sự khám xét của cảnh sát, Turing công nhận là ông có quan hệ tình dục với Murray, và cả hai bèn bị kết tội có hành vi không đúng đắn theo điều 11, bộ luật năm 1885 của Anh Section 11. Turing không tỏ ra hối lỗi, và bị kết án. Ông được quyền lựa chọn giữa hai hình phạt, án tù giam và quản thúc tại gia, với điều kiện là ông phải chấp nhận dùng điều trị bằng hormone (chemical castration), một phương pháp điều trị nhằm ức chế khát khao tình dục (libido). Để tránh bị giam, ông chấp nhận tiêm hormone estrogen trong vòng khoảng 1 năm, và việc này gây các hiệu ứng phụ như sự phát triển vú. Bản án tội trạng gây cho ông việc bị tước bỏ giấy phép làm việc trong bộ phận bảo mật của chính phủ, ngăn cản ông tiếp tục với công việc tư vấn cho Trung tâm truyền tin của chính phủ (Government Communications Headquarters) trong các vấn đề về mật mã.

Turing qua đời năm 1954 do nhiễm độc cyanide, có khả năng từ quả táo tẩm cyanide ông đang ăn dở. Quả táo này không bao giờ được xác nghiệm là có nhiễm độc cyanide, và nguyên nhân tử vong do nhiễm độc cyanide chỉ được xác nhận thông qua kết quả khám nghiệm tử thi. Hầu hết mọi người tin rằng cái chết của Turing là chủ ý và bản điều tra vụ tử vong đã được kết luật là do tự sát. Có dư luận cho rằng phương pháp tự ngộ độc này được lấy ra từ bộ phim mà Turing yêu thích - bộ phim Bạch Tuyết và bảy chú lùn (Snow White and the Seven Dwarfs). Tuy vậy, mẹ của ông không nghĩ như mọi người, mà khăng khăng cho rằng, cái chết đến từ tính bất cẩn trong việc bảo quản các chất hóa học của Turing. Bạn bè của ông có nói rằng Turing có thể đã chủ ý tự sát để cho mẹ ông có lý do từ chối một cách đáng khâm phục. Khả năng ông đã bị ám hại cũng đã từng được kể đến, do sự tham gia của ông trong cơ quan bí mật, và do việc họ nhận thức rằng bản chất đồng tính luyến ái của ông gây nguy hiểm cho việc bảo vệ bí mật.


Các vinh hạnh sau khi chết

Bắt đầu từ năm 1966, Giải Turing đã được Association for Computing Machinery (Hiệp hội Máy tính) trao cho cá nhân có đóng góp kĩ thuật cho cộng đồng máy tính. Giải này được coi như tương đương với giải Nobel trong cộng đồng này.

Ngày 23 tháng 6 năm 2001 một bức tượng của Turing được đặt tại công viên Sackville Park của thành phố Manchester, giữa tòa nhà của Đại học Manchester trên phố Whitworth và khu gay village của phố Canal. Để kỉ niệm 50 năm ngày mất của ông, một tấm bảng kỉ niệm đã được khánh thánh tại nơi ông ở trước đây, Hollymeade, Wilslow, vào ngày 6 tháng 7 năm 2004.

Tấm bảng đánh dấu nơi ở cũ của Turing


Viện khoa học Alan Turing (Alan Turing Institute) được sáng lập bởi UMIST và Đại học Manchester vào mùa hè năm 2004.

Lễ kỉ niệm cuộc đời và sự nghiệp của Turing đã được tổ chức tại Đại học Manchester vào ngày 5 tháng 6 năm 2004 do British Logic Colloquium (Hội Logic Anh) và British Society for the History of Mathematics (Nhóm nghiên cứu Lịch sử Toán học Anh) tổ chức.



Tượng kỷ niệm Alan Turing tại Sackville Park

Vào ngày 28 tháng 10 năm 2004 a bức tượng đồng của Alan Turing, tạc bởi John W. Mills, được khánh thành tại Đại học Surrey. Bức tượng kỷ niệm 50 năm ngày Turing mất. Nó diễn tả Turing đang cầm sách đi trong viện đại học này.

Holtsoft đã sản xuất ngôn ngữ lập trình mang tên Turing. Ngôn ngữ này dành cho người mới bắt đầu lập trình và không tương tác trực tiếp với phần cứng.

................................................................................
...............

namvk coppy từ Bách Khoa Toàn Thư Mở

bài viết được namvk chỉnh sửa vào lúc Aug 3 2006, 10:04 AM


--------------------
Tất cả là phù du.
Go to the top of the page
 
+Quote Post

Reply to this topicStart new topic
1 Thành viên đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Thành viên ẩn danh)
0 Thành viên:

Collapse

> Các chủ đề tương tự

  Chủ đề Trả lời Người mở Lượt xem Bài mới
No New Posts Alan Turing
cha đẻ của ngành khoa học máy tính
3 minhtam 310 14th December 2005 - 09:07 PM
Người gửi: minhtam


 



Phiên bản rút gọn Thời gian hiện tại: 4th September 2010 - 01:56 AM