Đến nội dung


Chú ý

Do trục trặc kĩ thuật nên diễn đàn đã không truy cập được trong ít ngày vừa qua, mong các bạn thông cảm.

Nếu các bạn đăng kí thành viên mà không nhận được email kích hoạt thì hãy kiểm tra thùng thư rác (spam). Nếu không biết cách truy cập vào thùng thư rác thì các bạn chịu khó Google hoặc đăng câu hỏi vào mục Hướng dẫn - Trợ giúp để thành viên khác có thể hỗ trợ.


tritanngo99

Đăng ký: 06-04-2015
Offline Đăng nhập: Hôm qua, 06:33
****-

Chủ đề của tôi gửi

[Góc lịch sử] Cổ nhân và những câu chuyện lịch sử

31-03-2019 - 17:48

Vương Dương Minh
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
 
 
Buớc tưới chuyển hướngBước tới tìm kiếm
Wang-yang-ming.jpg
 
Vương Dương Minh

Vương Dương Minh (1472-1528bính âm:Wang Yangming, Chữ Hán phồn thể: 王陽明, giản thể: 王阳明), tên thật là Thủ Nhân (守仁), tự là Bá An (伯安) là nhà chính trịnhà triết họcnhà tư tưởng xuất sắc thời nhà Minh ở Trung Quốc. Đồng thời ông còn là người văn võ song toàn, từng là tướng mang quân đi dẹp loạn nhiều lần. Quê ông ở Chiết Giang nhưng phải sống ở nhiều nơi khác nhau. Ông từng có thời gian sống ở hang Dương Minh nên ông được người ta gọi là Dương Minh tiên sinh. Ông đã xây dựng Dương Minh phái, có ảnh hưởng sâu rộng ở Nhật BảnTriều Tiên và cả Việt Nam.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn] Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Dương Minh sinh năm 1472 đời Minh Hiến Tông ở huyện Dư Diêu, thuộc tỉnh Chiết Giang ngày này trong một gia đình đạo đức, hiển đạt.

Ông tổ xa của ông là Vương Hy Chi[1][2]. Ông nội của ông là Vương Luân, là một nhà Nho được trọng vọng về đức hạnh và văn học. Thân phụ của ông là Vương Hoa[3].

Thuở thiếu thời[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Dương Minh là người có thể chất bạc nhược từ nhỏ, năm tuổi ông mới biết nói, nên gia đình không bắt ông đi học sớm. Bù vào đó ông rất thông minh, chỉ nghe ông nội đọc sách mà thuộc từng đoạn dài. Năm mười tuổi ông đã làm được thơ.

Tương truyền rằng ông nội ông cùng bạn uống rượu trong chùa Kim Sơn muốn làm bài tức cảnh mà chưa nghĩ ra. Vương Dương Minh ứng khẩu làm hai bài, một bài lấy đề là "Tề nguyệt sơn phòng" [4]:

Phiên âm: Sơn cận nguyệt viễn, giác nguyệt tiểu. Tiên đạo thử sơn đại ư nguyệt. Nhược nhân hữu nhãn đại như thiên Hoàn kiến sơn tiểu, nguyệt cánh khoát. Dịch thơ: Núi gần, trăng xa, thấy trăng nhỏ Nên bảo núi nọ lớn hơn trăng. Nếu người có mắt lớn bằng trời. Tất thấy trăng to núi đâu bằng.

Ngay từ bé ông đã bộc lộ tư chất và chí khí hơn nữa. Một lần khác ông lại hỏi thầy học:

- Thưa thầy, ở đời có việc gì là cao hơn cả?

Thầy học đáp:

- Thi đậu ra làm quan để thờ vua giúp nước, làm vẻ vang cho tổ tiên là cao hơn cả.

Vương Dương Minh lắc đầu đáp:

- Thưa thầy, con cho vậy là chưa cao, học làm được ông thánh mới là cao.

Thầy học giật mình, mà không dám cho cậu là ngông.

Con người ham mê học tập[sửa | sửa mã nguồn]

Năm mười năm tuổi, nhân đi chơi ở cửa ải Cự Dung, phục tinh thần trọng võ của người Hồ phương Bắc, Vương Dương Minh bèn theo người Hồ học cưới ngựa, bắn cung. Chẳng bao lâu sau, ông đã thạo cung ngựa. Ông định viết sớ toan dâng triều đình để hiến kế dẹp loạn thì bị cha ông ngăn cản.

Hai năm sau, ông sang Giang Tây để cưới vợ. Ông lang thang ngoài phố gặp một đạo sĩ thuyết phép dưỡng sinh mà quên cả việc lấy vợ. Đến tận sáng sớm hôm sau ông mới trở về nhà cha vợ.

Sau đó ông lại say mê tập viết chữ. Ông ở nhà vợ liền bỏ thì giờ tập viết nắn nón chữ viết ngày này qua ngày khác. Ông tự lập ra quy tắc: "Mới đầu phải trầm tĩnh suy nghĩ, định rõ hình dáng của mỗi chữ trong óc rồi mới hạ bút đừa liền tay như mỗi hàng có một nét".

Đồng thời trong thời gian thi trượt, ông còn chuyên tâm học binh pháp đọc sách của các binh gia thời xưa.

Làm quan[sửa | sửa mã nguồn]
200px-Wang_Shoujen.jpg
 
Tranh vẽ Vương Dương Minh
Thi đỗ và làm quan[sửa | sửa mã nguồn]

Năm hai mươi một tuổi, Vương Dương Minh đậu cử nhân, theo cha lên kinh, tìm đọc hết sách của Chu Hy.

Sau đó ông thi Hội bị trượt hai khóa. Ông không nản chí bảo rằng:

"Thi trượt không xấu hổ, thi trượt mà buồn mới là xấu hổ".

Năm hai mươi tám tuổi, ông đậu Nhị giáp tiến sĩ. được vào tập sự ở bộ Công kế.

Từ đây bắt đầu ông làm quan giữ nhiều chức vụ khác nhau. Ông từng ở bộ Công, bộ Hình, làm quan huyện, làm tướng, có lúc bị giáng xuống làm viên cai trạm. Bất kì ở chức nào ông cũng tỏ ra rất đắc lực, thanh liêm, khoan hòa chính trực thành ra người dưới thì trọng mà bọn tiểu nhân thì ghen ghét.

Ở hang Dương Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 30 tuổi, ông bị bệnh nặng, thổ huyết nên phải cáo bệnh về nhà. Trong thời gian này ông làm nhà ở động Dương Minh cách Hàng Châu hai chục dặm. Ở đây ông nghỉ ngơi, tập phép dưỡng sinh của Đạo giáo, học thêm về các môn bói, số đồng thời nghiên cứu cả về Phật giáo.

Bị giáng chức đi đày[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1504, ông về triều làm quan ở bộ Binh. Hai năm sau, Minh Vũ Tông lên ngôi, tin dùng bọn hoạn quan đặc biệt là Lưu Cận. Vương Dương Minh khẳng khái trách tội nhà vua tin dùng hoạn quan mà bắt tội bề tôi trung nghĩa. Vũ Tông nổi giận sai đánh ông bốn chục trượng rồi giáng xuống làm cai trạm ở Long Trường, tỉnh Quý Châu, giáp Vân Nam.

Lưu Cận còn sai kẻ đi ám sát ông. Ông đoán được, đến sông Tiền Đường, ông bỏ quần áo lại với một bài thơ, giả vờ tự vẫn. Sau đó ông lội vào bờ núp trong đám sậy đến tối mới đáp thuyền đi Chiết Giang. Sau bao gian nan vất vả ông đến Long Trường. Trong thời gian này ông ở với người Miêu, phong thủy tập quán không hợp, thậm chí không có nhà để ở, phải ở trong hang.

Ở đây ông dạy người Miêu lễ nghi người Hán, dần dần ông cũng quen với cuộc sống người Miêu ở đây mà đem lòng quý mến tính tình chất phác của họ. Ngược lại dân Miêu cũng quý mến mà cất nhà cho ông.

Năm 1510, ông được thăng chức rồi được triệu về kinh. Từ đây ông bắt đầu được triều đình cử đi dẹp loạn trong nước.

Dẹp loạn[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1516, ông đi đánh dẹp giặc ở miền nam, trước sau dẹp được 5 cuộc nổi dậy:

  1. Giặc Chương Châu ở Giang Tây, Phúc Kiến năm 1517.
  2. Giặc Dũng Cương, Hoành Thủy ở Quảng Đông năm 1517.
  3. Giặc Tam Lợi ở Giang Tây năm 1518
  4. Loạn Thần Hào[5] ở Nam Xương, năm 1519
  5. Giặc Tư Ân và Bát Trại ở Quảng Tây, năm 1528
Cách tổ chức quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Dương Minh không dùng tướng của triều đinh, cho những lính già, yếu về nhà hết, lựa chọn những người khỏe mạnh trong dân gian, sung vào quân đội, rồi tuyển ngay trong số đó những kẻ có tài để trao quyền chỉ huy.

Ông tổ chức quân đội, chia ra làm ngũ, đội, sáo, doanh, trận, quân: cứ 25 người làm một ngũ, có chức tiểu giáp chỉ huy; 50 người làm một đội, có chức tổ giáp chỉ huy; 200 người làm một sáo, có một chức trưởng quan và hai chức hiệp trưởng; 400 người làm một doanh, có một chức doanh quan và hai chức tham mưu coi giữ; 1200 người làm một trận có chức thiên tướng coi giữ. Mỗi chức từ lớn tới nhỏ đều có quyền hành với kẻ dưới và chịu trách nhiệm với người trên.

Ông chú trọng dùng quân giỏi chứ không cốt đông, chỉ khi sắp xếp kỹ lưỡng mới đưa quân ra trận. Tài năng của ông rõ nhất trong việc dẹp loạn Thần Hào.

Dẹp loạn Thần Hào[sửa | sửa mã nguồn]

Thần Hào nổi loạn binh hùng tướng mạnh, thế của quân triều đình bất lợi. Vương Dương Minh chưa kịp đến nơi thì đã có tin Thần Hào đem binh đi đánh hai thành Nam Khang, Cửu Giang rồi chiếm Nam Kinh lên ngôi Hoàng dế. Vương Dương Minh liền viết mật chỉ giả, làm như triều đình biết trước mưu phản nghịch của hắn mà đề phòng kỹ, ra lệnh xuất binh chặn đường. Ông sắp đặt cho Thần Hào bắt được mật chỉ, quả nhiên Thần Hào sinh nghi, chưa dám xuất quân vội, và trong lúc do dự, ông có thì giờ kêu gọi quân các nơi khác lại và tổ chức lại quân đội. Mọi việc xong xuôi, ông mới truyền hịch kể tội giặc, hô chiếu cần vương.

Mặt khác, ông tìm cách chia rẽ vây cánh Thần Hào, làm tờ trình về nói nhận được mật thư xin hàng của mưu sĩ của Thần Hào đồng thời lại viết những bức thư trả lời dặn dò cách xử sự ra sao. Tất nhiên, hết thảy những giấy tờ giả mạo đó đều đến tay Thần Hào và nội bộ của hắn lủng củng.

Khi Thần Hào rời căn cứ Nam Xương mà đánh Yên Khánh. Ông dùng kế "Vây Ngụy cứu Triệu" đánh thẳng vào sào huyệt Nam Xương. Thần Hào đâm lo; bọn mưu sĩ khuyên Hào bỏ Nam Xương mà đánh dốc lên Nam Kinh rồi lên ngôi Hoàng đế, tiến lên Bắc Kinh. Nhưng vì nghi kỵ hắn không nghe, trở về cứu Nam Xương và bị Vương Dương Minh bắt.

Cuối cùng, loạn Thần Hào bị dẹp yên trong vòng 42 ngày.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Vì triều đình rối loạn đồng thời vua Minh Thế Tông (1522-1566) không biết xoay xở sao nên một mực dụ dỗ sai ông đi dẹp giặc Tư Ân và Bát Trại. Dẹp xong thì bệnh tình của ông trầm trọng, lúc nóng lúc lạnh, ho mửa ra máu.

Tháng 10 năm 1528, ông dâng sớ cáo quan về dưỡng bệnh. Ông giao binh quyền cho Vương Đại Dụng rồi không đợi chiếu nhà vua mà sắm sẵn một chiếc quan tài theo để về quê. Mới tới Nam An thì ông mất (1528), thọ 56 tuổi.

Tư tưởng triết học[sửa | sửa mã nguồn]

Thoạt tiên ông đọc Chu Hi, Chu Di giảng 4 chữ "Cách vật trí tri" trong sách Đại học là xét "đến cái lý của sự vật, muốn cho những chữ nhỏ nhặt tới đâu cũng hiểu được thấu đáo". Vương theo lời giảng đó mà bỏ ra 7 ngày liền ngồi dưới một bụi trúc để tìm cái "lý" của cây trúc; nhưng mất công toi, ông sinh ra chán nản.

Mãi ba chục năm sau, ông bỗng nhiên tỉnh ngộ, thấy rằng không thể đến với sự vật để tìm ra đạo lý được, mà đạo lý ở trong tâm ta, hễ ta tu dưỡng làm lành lánh ác, diệt tà niệm cho tâm được sáng suốt thì sẽ thấy Đạo Trời và Đạo Người. Đó là thuyết của Lục Cửu Uyên từ đời Tống. Có lẽ ông không đọc Lục cho nên mới mất 30 năm để tìm lại ra được nó.

Có người hỏi Vương Dương Minh:

Đạo Nho với đạo Phật khác nhau thế nào?

Ông đáp:

Không nên tìm cái đồng, cái dị của đạo Nho, đạo Phật, tìm cái Phải mà học là được vậy.

Vương Dương Minh theo tâm học của Lục Cửu Uyên, coi tâm, đạo và trời là một, nếu hiểu rõ "tâm" [6], thì cũng hiểu được đạo và trời [7]. Ứng dụng tâm học về mặt đạo đức, ông chủ trương "trí lương tri" và "tri hành hợp nhất". "Trí lương tri" (thực hiện triệt để điều hiểu biết tốt lành), vì lương tri là điểm sáng của lòng người, đó cũng là lẽ trời (thiên lý): "Bản thể của tâm là lẽ trời, sự nhận hiểu lẽ trời một cách sáng láng linh diệu là lương tri" [8]. Thuyết "trí lương tri" của Vương Dương Minh kế tục ý niệm "lương tri lương năng" của Mạnh Tử, nhấn mạnh "trí" [9]. Hệ quả của "trí lương tri" là "tri hành hợp nhất". Vương Dương Minh bản thân không có trước tác, nhưng những điều giảng dạy của ông đã được học trò ghi lại thành sách với tên "Ngữ lục", "Văn lục", "Biệt lục", "Phụ lục", vv., gồm 38 quyển với tên "Vương Văn Thành Công toàn thư"[10].

Tóm lại học thuyết của ông kết tinh trong bốn câu dưới đây:

  • Không thiện không ác: ấy là cái thể của Tâm.
  • Có thiện, có ác: ấy là sự động của ý.
  • Biết thiện, biết ác: ấy là lương tri.
  • Làm điều thiện, xua điều ác: ấy là cách vật.

Học thuyết đó hoàn toàn duy tâm, có màu sắc Phật giáo hơn là Khổng giáo.

Ảnh hưởng của Dương Minh phái[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Dương Minh được đánh giá rất cao trong giới Nho học. Ông được đánh giá là vị trong 4 vị thầy vĩ đại nhất của đạo Nho, sánh ngang với Khổng TửMạnh Tử và Chu Hi.

Ông thành lập phái Dương Minh tâm học hay còn gọi là Diêu giang phái.

Đạo học của ông gọi chung là Dương Minh phái hay Dương Minh học, có ảnh hưởng lớn đến Nho học thời MinhThanh, đồng thời có ảnh hưởng đặc biệt lớn với Nhật Bản.

Giới trí thức Nhật đã tích cực tiếp thu và phổ biến tư tưởng của Vương Dương Minh tức "Dương Minh Học" chủ trương "Tri hành hợp nhất, Vạn vật nhất thể, Chí lương tri..." và canh tân. Rất nhiều học giả Nhật Bản đã chú tâm nghiên cứu đạo học của Vương Dương Minh.

Năm 1950, Tưởng Giới Thạch đã đổi tên vườn quốc gia Thảo Sơn ở Đài Loan thành Dương Minh Sơn để tưởng nhớ công lao của Vương Dương Minh.

Năm 2017, chính quyền thành phố Quý Dương đã khánh thành công viên Vương Dương Minh, cùng với đó là một nhà trưng bày các tác phẩm của ông để tưởng nhớ và vinh danh những đóng góp của ông.[11]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Nhà thư pháp nổi danh đời Đông Tấn (Lục Triều) lưu truyền lại bài Lan Đình Ký và một lối chữ tuyệt đẹp gọi là "thiếp Lan Đình".
  2. ^ -Nguyễn Hiến Lê (2000). “Vương Dương Minh”. Gương danh nhân. Nhà xuất bản Văn hóa thông tin. và Trần Trọng Kim. “Nho Học Đời Minh - Diêu Giang Phái”. Nho Giáo.
  3. ^ Vương Hoa đậu quan Trạng đã từng làm quan tới chức thượng thư bộ Lại.
  4. ^ Nhà ở trên núi che khuất Mặt Trăng
  5. ^ Chu Thần Hào là một hoàng thân nhà Minh, được phong tước Ninh vương, thấy Minh Vũ Tông không con lại ham chơi, muốn cướp ngôi, gây được vây cánh cả trong lẫn ngoài triều.
  6. ^ bản thể của tâm
  7. ^ tâm tức đạo, đạo tức thiên, tri tâm tất tri đạo tri thiên
  8. ^ Tâm chi bản thể tức thiên lý dã, thiên lý chi chiêu minh linh giác sở vị lương tri dã
  9. ^ thực hiện triệt để
  10. ^ Văn Thành Công là tên do vua nhà Minh phong tặng
  11. ^ “Johnson, Ian (2017-10-18). "Forget Marx and Mao. Chinese City Honors Once-Banned Confucian". The New York Times. Retrieved 2017-10-19.”.
Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]
  • Nho giáo - Trần Trọng Kim.
  • Gương danh nhân - Nguyễn Hiến Lê.
  • Bài viết Thiên thần và Thượng đế của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ.

 


Người phụ nữ đầu tiên thắng giải Abel

26-03-2019 - 17:38

Người phụ nữ đầu tiên thắng giải Abel

20/03/2019 09:18 - tiasang.com.vn

Karen Keskulla Uhlenbeck – người phụ nữ đầu tiên giành giải Abel toán học, đã xây lên những cây cầu nối giữa các lĩnh vực giải tích, hình học và vật lý.

 

ku2.jpg

Nhà toán học Mỹ Karen Keskulla Uhlenbeck đã giành giải Abel 2019 – một trong những giải thưởng danh giá nhất lĩnh vực này – cho những nghiên cứu trên diện rộng trong giải tích, hình học và vật lý toán. Bà là người phụ nữ đầu tiên giành giải thưởng trị giá 6 triệu kroner (tương đương 702.500 triệu USD) của Viện hàn lâm Khoa học Nauy, giải thưởng được bắt đầu trao từ năm 2003.

Uhlenbeck biết mình thắng giải vào ngày 17/3/2019, sau khi một người bạn của bà gọi điện và cho biết là Viện hàn lâm Khoa học Nauy đã cố gắng liên lạc với bà. “Tôi hoàn toàn kinh ngạc”, bà nói với Nature. “Thực sự là vô cùng bất ngờ.” Rút cục, Viện Hàn lâm Khoa học Nauy đã loan báo thông tin ngày vào ngày 19/3/2019.

Nổi tiếng với các phương trình vi phân riêng phần, vốn nối kết với các đại lượng biến thiên với các mức thay đổi của chúng và là tâm điểm của phần lớn các định luật vật lý, nhưng sự nghiệp nghiên cứu của Uhlenbeck trải rộng trên nhiều lĩnh vực. Bà thường dùng các phương trình để giải quyết các bài toán trong hình học và tô pô.

Một trong những kết quả có nhiều ảnh hưởng nhất của bà – và là một thứ mà bà vẫn cho là tự hào nhất – là khám phá ra hiện tượng bong bóng, là một phần của công trình mà bà đã thực hiện cùng nhà toán học Jonathan Sacks. Sacks và Uhlenbeck đã cùng nghiên cứu về “những mặt phẳng tối giản”, một lý thuyết toán học về cách các màng xà phòng tự bố trí theo các hình dạng để tối ưu năng lượng của chúng. Nhưng lý thuyết này đã không lý giải được sự xuất hiện của những điểm mà tại đó, năng lượng dường như tập trung một cách vô hạn. Cách giải quyết của Uhlenbeck là đã “phóng đại” những điểm đó, vốn là nguyên nhân của một bong bóng mới tách ra khỏi bề mặt.

Bà đã ứng dụng các kỹ thuật tương tự để thực hiện công trình nền tảng trong lý thuyết toán học của các trường gauge, một lý thuyết phát sinh của điện từ trường cổ điển, vốn là vấn đề cơ bản của mô hình chuẩn trong vật lý hạt.

Uhlenbeck đã thực hiện nghiên cứu vào đầu những năm 1980, khi các cộng đồng nghiên cứu đã lớn mạnh để có thể trao đổi với nhau. “Đây thực sự là mối ‘lương duyên’ giữa toán học và vật lý,” bà nói. Các nhà toán học đã chứng minh là họ có thông tin hữu dụng cho các nhà vật lý, những người “có những ý tưởng tuyệt vời về những chủ đề mà các nhà toán học không thể tự mình giải quyết”.

Công trình của nhiều nhà toán học được vinh danh khác đã bắt rễ từ các kỹ thuật do Uhlenbeck giới thiệu, Mark Haskins – một nhà toán học tại trường đại học Bath, Anh và là một trong những nghiên cứu sinh của bà, đánh giá. Họ bao gồm nhà toán học giải Fields 1986 Simon Donaldson – người ứng dụng lý thuyết gauge vào topo của các không gian bốn chiều, giải Abel 2009 Mikhail Gromov – nghiên cứu một mô hình toán học của ‘các dây’ trong lý thuyết dây, trong đó ông tìm thấy ý tưởng bong bóng là vấn đề cốt lõi.

Haskins cho rằng Uhlenbeck là một trong những nhà toán học có “một cảm giác bẩm sinh về những gì có thể là sự thật”, ngay cả khi chúng còn chưa được lý giải. Khi còn là sinh viên của bà, anh kể lại thi thoảng bế tắc bởi câu trả lời của bà cho câu hỏi mình đặt ra. “Phản ứng ngay tức thì của bạn là Karen đã hiểu lầm bạn, bởi bà thường trả lời một câu hỏi khác hẳn,” Haskins nói. Nhưng “có thể vài tuần sau đó, bạn mới nhận ra là bạn đã không đưa ra một câu hỏi đúng”.

‘Cuộc nổi loạn chính đáng’

Karen Keskulla sinh tại Cleveland, Ohio năm 1942 và lớn lên tại New Jersey trong sự tập trung vào học hành. “Tôi đọc tất cả các cuốn sách khoa học trong thư viện và sau đó không đến đó vì không còn cuốn nào để đọc,” bà từng viết như vậy trong một bài viết về cuộc đời mình năm 1996.

Sau mối quan tâm ban đầu về vật lý, bà trở thành tiến sỹ toán vào năm 1968 ỏ trường đại học Brandeis ở Waltham, Massachusetts. Bà là một trong số ít phụ nữ trong khoa của mình; thi thoảng một vài nhà nghiên cứu cũng nhận ra tài năng của bà và khuyến khích bà nhưng không phải ai cũng vậy. “Người ta đã nói với chúng tôi là chúng tôi không thể nghiên cứu về toán vì chúng tôi là phụ nữ. Tôi thích làm những gì mà không không được khuyến khích để làm, đó là một kiểu nổi loạn chính đáng,” bà đã viết như vậy trong bài viết của mình.

Uhlenbeck làm việc tại nhiều trường đại học – ban đầu bị nhiều đồng nghiệp nam từ chối hoặc cách ly, bà nói – trước khi được bổ nhiệm tại trường đại học Texas ở Austin vào năm 1987, nơi bà làm việc cho đến khi về hưu vào năm 2014.

Uhlenbeck đã là nguồn cảm hứng vô tận cho phụ nữ trong lĩnh vực toán học, và thành lập chương trình Phụ nữ và toán tại Viện nghiên cứu tiên tiến ở Princeton, New Jersey. “Bà đã đóng một vai trò vô cùng to lớn và là người cố vấn cho nhiều thế hệ nhà toàn học nữ,” Caroline Series, một nhà toán học tại trường đại học Warwick ở Coventry Anh và chủ tịch Hội toán học Anh, nhận xét.

Năm 1990, bà có một buổi thuyết trình tại Hội nghị toán học quốc tế - người phụ nữ duy nhất đã từng có vinh dự như vậy là Emmy Noether, người lập nền tảng cho số học hiện đại, vào năm 1932. Uhlenbeck đã nhận được nhiều giải thưởng, bao gồm Giải Khoa học quốc gia Mỹ năm 2000.

Uhlenbeck đầu tiên còn miễn cưỡng đón nhận vai trò của mình nhưng sau khi nhận thấy chỉ có số ít thành công trong thế hệ mình, bà nhận thấy rằng con đường tới công bằng còn khó khăn hơn dự kiến. “Tất cả chúng ta đều nghĩ rằng một khi các rào cản được hạ xuống thì phụ nữ và các nhóm thiểu số trong xã hội đều có thể bước qua cánh cửa để vào giới hàn lâm và nhận được chỗ của mình” nhưng điều chỉnh trong các trường đại học còn dễ dàng hơn trong môi trường văn hóa mà mọi người lớn lên, Uhlenbeck nói. Bà hi vọng giải thưởng bà nhận được sẽ truyền cảm hứng cho các thế hệ sau đến với toán học như Noether và những người đã truyền cảm hứng cho bà.

Thanh Phương dịch

Nguồn: https://www.nature.c...586-019-00932-1

 


$a_{k}^4-a_k-2$ chia hết cho $m$

26-03-2019 - 05:34

Cho dãy Fibonacci được định nghĩa như sau: $a_1=a_2=1$ và $a_{k+2}=a_{k+1}+a_{k}$ với $k\in \mathbb{N}$. Chứng minh rằng với bất kỳ số tự nhiên $m$, đều tồn tại chỉ số $k$ thỏa mãn $a_{k}^4-a_k-2$ chia hết cho $m$


CMR: $\sum\limits_{k=0}^{p-1}\binom{2k...

26-03-2019 - 05:28

Cho $p$ là số nguyên tố thỏa mãn $p\equiv 1(\text{ mod }4)$. Chứng minh rằng: $\sum\limits_{k=0}^{p-1}\binom{2k}{k}^2\frac{F_k}{16^{k}}\equiv 0(\text{ mod }p^2)$, trong đó $F_{k}$ là số fibonacci thứ $k$


Chứng minh rằng: $F_{2p(p^2-1)}\vdots p$.

25-03-2019 - 09:05

Kí hiệu $F_n$ là số Fibonacci thứ $n$ ($F_1=F_2=1$ và $F_{n+2}=F_{n+1}+F_n$), và số nguyên tố $p$. Chứng minh rằng: $F_{2p(p^2-1)}\vdots p$.